Ðối với nhiều người thuộc các nền văn hóa khác, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ có vẻ hết sức rộng lớn và đa dạng đến độ khó tìm thấy các điểm chung. Tuy nhiên, trong cái mớ phức tạp và “trăm hoa đua nở” đó, nền giáo dục Hoa Kỳ lại phản ảnh một cách xuất sắc lịch sử, văn hóa và các giá trị xã hội của một đất nước luôn luôn đổi mới và liên tục tiến bộ. Nhìn chung, nét đặc thù của nền giáo dục Hoa Kỳ được thể hiện qua các tính cách như tầm cỡ lớn lao, tổ chức hoàn bị, địa phương hóa rõ rệt, cạnh tranh mạnh mẽ, phẩm chất cao, và ngày càng đa văn hóa.
Nhiều người cảm thấy bối rối không hiểu các từ ngữ college, university, institute và ngay cả school nữa khác nhau như thế nào mà vẫn thấy được dùng gần như lẫn lộn và đồng nghĩa với nhau để nói tới một học viện cấp văn bằng bậc đại học tại Hoa Kỳ. Sự thật thì, tại Hoa Kỳ, college và institute không hề kém giá trị so với university. Trong phạm vi các colleges và universities, sinh viên có thể tìm thấy các schools, tỷ dụ như school of arts and sciences (phân khoa/trường dạy các ngành nhân văn và khoa học) hoặc school of business (phân khoa/trường kinh doanh). Mỗi một phân khoa/trường như vậy trong một college hoặc university chịu trách nhiệm giảng dạy một số các chương trình học hoặc môn, ngành có cấp bằng hẳn hoi cho sinh viên theo học.
Về chất lượng, các trường đại học Mỹ nổi tiếng khắp thế giới nhờ các tiện nghi phòng ốc và trang bị tân tiến, các tài nguyên dồi dào và ban giảng huấn giỏi. Qua hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục (accreditation systems), các trường đại học nơi đây lúc nào cũng duy trì được tiêu chuẩn giáo dục cao.
WASHINGTON DC (NV) - Việt Nam đã vươn lên đứng hàng thứ 9 trong số 20 quốc gia trên thế giới có sinh viên du học tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, xét về sự gia tăng thì Việt Nam lại đứng hạng nhất, tỷ lệ 46.2% trong niên khóa 2008-2009, với tổng số 12,823 du học sinh.
Theo một bài báo đăng trên tờ New York Times mới gần đây, sự quan tâm lớn lao nhất của nhiều người khi nộp đơn ghi danh vào các trường đại học ở Hoa Kỳ chẳng phải là thứ hạng về dạy giỏi, nổi tiếng như trong các bảng sắp hạng của tuần báo U.S, News and World Report. Đối với họ điều quan trọng là “tôi sẽ làm được bao nhiêu tiền khi tốt nghiệp?”
Nhiều gia đình ở Mỹ hiện phải mượn các món nợ lớn để trả cho tiền học của con cái khi vào đại học. Các sinh viên đại học ngày nay tốt nghiệp với cả chục ngàn mỹ kim tiền nợ. Những bạn đã đi làm thì toát mồ hôi để trả nợ. Đây chẳng phải là những điều gì mới mẻ, nhưng ngày càng trở nên rất thường thấy ở các đại học, khi cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp tục kéo dài. Với các chuyên gia đổ lỗi cho tình trạng khó khăn tài chánh của sinh viên xảy ra vì đã tiêu xài thẻ tín dụng (credit card) với lãi xuất cao không suy nghĩ, cộng thêm với sự thiếu hiểu biết về những nguyên tắc căn bản của tiền bạc, nhiều trường đại học trên khắp Hoa Kỳ đang tìm cách sửa chữa khiếm khuyết này.
Các bạn sinh viên giỏi toán thường ít khi nào khoe khoang điều này vì sợ người chung quanh nhìn bằng con mắt ‘khác thường’, cho rằng thế nào cũng thuộc loại ‘khô khan’ và không dễ thân thiện. Nhưng mức lương mà các cử nhân những ngành cần có căn bản toán lãnh ngay khi ra trường thường cao hơn mọi ngành khác.
Với hơn 3,000 trường cao đẳng và đại học cùng với các chương trình học có tính cách thực dụng tại Hoa Kỳ, việc chọn một trường hoặc một chương trình học thích hợp là một tiến trình không phải lúc nào cũng dễ dàng đối với sinh viên, nhất là các sinh viên đến từ một nền giáo dục khác với nền giáo dục Hoa Kỳ. Các học viện và chương trình học này bao gồm các trường dạy sinh ngữ, các trường cao đẳng (đại học) hệ 2 năm, các trường cao đẳng và đại học truyền thống, cùng với các trường kinh doanh và kỹ thuật.