Các chương trình học thuộc bậc cử nhân (undergraduate programs), nằm trong cấp thứ nhất của nền giáo dục sau bậc trung học (post-secondary education), bắt đầu sau 12 năm học bậc tiểu học và trung học. Tại Hoa Kỳ, bằng cử nhân (B.A. hoặc B.S.) được coi là văn bằng đại học căn bản để một người -từ nay được xã hội công nhận là tốt nghiệp đại học 4 năm- có thể đi làm và thăng tiến nghề nghiệp theo (hoặc có khi không theo) các môn, ngành mà mình đã chọn học trong suốt 4 năm trên ghế nhà trường. Rất nhiều chính khách, tướng lãnh, đại gia, tài tử thượng thặng, nhà báo nổi tiếng... đã được lịch sử nhắc nhở và ngưỡng một dù họ chỉ tốt nghiệp văn bằng cử nhân trong cái rừng người khoa bảng gồm vô số cử nhân, cao học và tiến sĩ khắp nơi trên đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Saturday, November 07, 2009
Vann Phan
Các chương trình học thuộc bậc cử nhân (undergraduate programs), nằm trong cấp thứ nhất của nền giáo dục sau bậc trung học (post-secondary education), bắt đầu sau 12 năm học bậc tiểu học và trung học. Tại Hoa Kỳ, bằng cử nhân (B.A. hoặc B.S.) được coi là văn bằng đại học căn bản để một người -từ nay được xã hội công nhận là tốt nghiệp đại học 4 năm- có thể đi làm và thăng tiến nghề nghiệp theo (hoặc có khi không theo) các môn, ngành mà mình đã chọn học trong suốt 4 năm trên ghế nhà trường. Rất nhiều chính khách, tướng lãnh, đại gia, tài tử thượng thặng, nhà báo nổi tiếng... đã được lịch sử nhắc nhở và ngưỡng một dù họ chỉ tốt nghiệp văn bằng cử nhân trong cái rừng người khoa bảng gồm vô số cử nhân, cao học và tiến sĩ khắp nơi trên đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Bằng Bachelor's degree và bằng Associate's degree
Các chương trình học thuộc bậc cử nhân kéo dài ít nhất là 4 năm, và sinh viên tốt nghiệp với văn bằng cử nhân (Bachelor's degree). Cũng nằm trong các chương trình undergradutae programs là các chương trình học 2 năm (two-year programs) mà khi tốt nghiệp sinh viên lấy được bằng cao đẳng/đại học 2 năm (Associate's degree).
Các chương trình học thuộc hệ 2 năm có thể thuộc loại dứt điểm (terminal), tức là khi ra trường sinh viên sẽ đi làm một nghề chuyên môn nào đó mà không cần phải học gì thêm nữa, hoặc thuộc loại chuyển tiếp (transfer), tức là sinh viên có thể chuyển các tín chỉ đại học (credits) của mình lên một trường đại học hệ 4 năm (college hoặc university) để tiếp tục việc học. Như vậy, một sinh viên có bằng Associate's degree phải học thêm ít nhất là 2 năm nữa mới lấy được bằng Bachelor's degree.
Bằng associate có thể do các trường đại học hệ 2 năm (two-year college), thường là trường junior college hoặc là trường community college (đại học cộng đồng) cấp phát. Bằng bachelor thì do các trường đại học hệ 4 năm (four-year colleges/universities) cấp phát.
Riêng về bằng cử nhân (B.A. hoặc B.S.)
Một trong các đặc điểm hấp dẫn nhất của chương trình học bậc cử nhân của Hoa Kỳ là tính uyển chuyển cao độ của nó. Thông thường, sinh viên có thể chọn từ vô số các khóa học và môn, ngành do trường cung ứng để tạo nên chương trình học riêng thích hợp với sở thích và khả năng của mình. Văn bằng cử nhân (Bachelor's degree) được cấp phát sau khi sinh viên hoàn tất một tổng số tín chỉ đại học (credits) nào đó, thường thì phải cần đến 4 năm học toàn thời gian (full-time study) mới lấy được. Năm học đầu tiên tại trường đại học được gọi là “freshman year;” năm học thứ nhì là “sophomore;” năm thứ ba là “junior;” và năm thứ tư là “senior.”
Trên thực tế, sinh viên tại Mỹ thường phải học hơn 4 năm mới hoàn tất dược chương trình học bậc cử nhân. Ðây có thể là vì họ đã đổi môn, ngành chính (majors) cho nên phải cần thêm thời gian để tích lũy cho đủ tín chỉ đại học phù hợp với môn, ngành mới thì họ mới có thể được cấp bằng. Hoặc có thể là vì họ không theo học được toàn thời gian -vì lý do học trình thay đổi, vì gặp vấn đề cá nhân hay gia đình, hoặc vì lý do tài chánh- trong mọi học kỳ theo đúng kế hoạch đã định cho nên phải cần thêm thời gian để bù đắp cho những tín chỉ đại học còn thiếu.
Nguyên tắc “liberal arts” trong học trình bậc cử nhân
Nền giáo dục bậc cử nhân tại Hoa Kỳ dựa trên khái niệm “liberal arts” tức là coi trọng những môn học có tính cách kiến thức tổng quát (như ngôn ngữ, văn chương, lịch sử, triết lý, toán, và khoa học) thay vì những môn học có tính cách kỹ thuật hoặc chuyên nghiệp, với mục đích cung cấp cho sinh viên một nền học vấn đầy đủ mọi mặt, giúp sinh viên phát triển các khả năng phát biểu, viết và lý luận.
Nguyên tắc “liberal arts” trong các chương trình học bậc cử nhân đòi hỏi sinh viên, trong hai năm đầu, phải lấy các lớp hoặc môn học mang tính kiến thức tổng quát như kể trên trước khi tập trung chú ý tới các môn, ngành chính (major) mà mình chọn lựa. Ngay cả các sinh viên không lấy các môn liberal arts đó làm môn, ngành chính của mình mà lại chọn môn, ngành chính là kiến tạo (engineering), chẳng hạn, thì cũng thường được yêu cầu phải dành ra khoảng 25% số tín chỉ đại học (cần có để tốt nghiệp) mà học các môn như nhân văn (humanities) và khoa học xã hội (social sciences) thì mới có thể hoàn tất chương trình học bậc cử nhân theo đúng quy định được. Tương tự như thế, một sinh viên muốn hoàn tất văn bằng cử nhân sử học cũng cần phải có một số tín chỉ đại học về toán và khoa học nữa trong học trình của mình.
Niên khóa
Tại Hoa Kỳ, ngày bắt đầu và ngày chấm dứt một niên khóa (hay năm học) tại một trường đại học này có thể khác biệt đôi chút với một trường đại học khác, nhưng thường thì một năm học khởi sự từ đầu Tháng Chín năm trước cho tới cuối Tháng Năm năm sau. Niên khóa thường được chia thành 2 học kỳ, gọi là “semester” (lục cá nguyệt), và mỗi học kỳ kéo dài 18 tuần lễ, hoặc chia thành 3 học kỳ, gọi là “quarter” hoặc “trimester” (tam cá nguyệt), mỗi học kỳ kéo dài 12 tuần lễ.
Phần lớn các trường đại học đều cung ứng thêm học kỳ Mùa Hè, kéo dài từ 6 tới 8 tuần lễ, không bắt buộc mà chỉ do sinh viên tự chọn, để cho sinh viên theo học nếu họ muốn hoàn tất văn bằng sớm hơn thời gian quy định chút đỉnh, hoặc để có thể giảm bớt gánh nặng bài vở cho những học kỳ kế tới, hoặc là để đền bù cho những khóa học hoặc lớp học mà họ không hoàn tất được trong một học kỳ nào đó của niên khóa.
Ít nhất cũng có hai kỳ nghỉ trong niên khóa: một kỳ nghỉ xả hơi (break) kéo dài từ 2 tới 4 tuần lễ vào Mùa Ðông, thường là từ Tháng Mười Hai cho tới Tháng Giêng, và một kỳ nghỉ xả hơi vào Mùa Xuân (Spring break) dài khoảng một tuần lễ, vào khoảng từ giữa Tháng Ba tới giữa Tháng Tư.
Ở Mỹ, trong khi kỳ nghỉ Mùa Ðông thường dành cho gia đình thì kỳ nghỉ Mùa Xuân lại dành cho các bạn học hoặc bạn bè cùng trang lứa. Và đây cũng là thời hoa mộng nhất của tuổi học trò, khi, giữa tiết Xuân đầm ấm, lớp người trẻ tạm gác sách đèn, quên đi bài vở chồng chất, để cùng nhau lên đường viễn du, tham gia các buổi pạc-ty, tắm biển, nhảy nhót, hẹn hò nhau và quậy phá tối đa cho đã đời sinh viên.
Hệ thống tín chỉ đại học
Sinh viên tại các đại học Mỹ hoàn thành văn bằng của mình sau khi đã tích lũy được một số tín chỉ đại học (credits) theo đúng yêu cầu để tốt nghiệp. Ở bậc cử nhân, sinh viên phải cần tới khoảng từ 130 tới 180 tín chỉ như thế để ra trường. Thỉnh thoảng, các từ ngữ như semester/quarter hours (số giờ theo học trong lục cá nguyệt/tam cá nguyệt) hoặc units (đơn vị trong giáo trình) được dùng thay cho từ ngữ credits. Mỗi giáo trình hoặc lớp (course) mà sinh viên theo học đem lại một số từ 2 đến 4 credits.
Các loại giáo trình cần có để lấy bằng
Các giáo trình (lớp) riêng rẽ tạo thành toàn bộ chương trình học bậc cử nhân của sinh viên có thể được chia làm 4 loại:
* Giáo trình cốt lõi (core course): Các giáo trình này là nền tảng của văn bằng, và sinh viên học bất cứ môn ngành nào đều phải theo học các giáo trình này mới có thể ra trường. Sinh viên chọn các giáo trình cốt lõi về toán, Anh ngữ, nhân văn, khoa học vật lý và khoa học xã hội. Một số trường đại học yêu cầu sinh viên phải lấy nhiều giáo trình cốt lõi, trong khi các đại học khác thì lại chỉ đòi hỏi sinh viên phải lấy một số ít giáo trình cốt lõi mà thôi.
* Giáo trình chính (major): Một giáo trình chính là một môn ngành học mà sinh viên chọn để làm trọng tâm cho chương trình học của mình. Hầu hết sinh viên chỉ lấy một môn ngành chính mà thôi. Tuy nhiên, có những trường đại học cho sinh viên được chọn hai môn ngành cùng một lúc (double major), mà môn ngành thứ nhì có liên hệ tới môn ngành thứ nhất, tỉ dụ sinh viên có thể double major về psychology (tâm lý) và marketing (tiếp thị). Các môn ngành học chính của sinh viên phải có số tín chỉ chiếm khoảng phân nửa tổng số tín chỉ cần có để tốt nghiệp.
* Giáo trình phụ (minor): Một giáo trình phụ là một môn ngành học mà sinh viên có thể chọn để tập trung nỗ lực học hành của mình sau khi đã chọn xong giáo trình chính, và thì giờ cũng như công sức mà sinh viên dành cho giáo trình phụ này chỉ thua sút nỗ lực dành cho giáo trình chính mà thôi, tỉ dụ sinh viên có thể major về marketing (tiếp thị) và minor về advertising (quảng cáo). Số các lớp theo học hoặc số tín chỉ cần phải có để hoàn thành minor thường là bằng phân nửa số lớp theo học hoặc số tín chỉ đòi hỏi cho major.
* Giáo trình nhiệm ý (elective): Một giáo trình nhiệm ý là một môn ngành học tùy sự lựa chọn của sinh viên, được lấy từ bất cứ môn ngành học nào đang có tại trường đại học, thường là những môn ngành học mà sinh viên ưa thích hoặc sở trường ngoài major và minor ra, tỉ dụ như ngoại ngữ, âm nhạc, thể thao hay hội họa.
Ðiểm (grades)
Các trường đại học Mỹ dùng một hệ thống đánh giá năng lực học vấn của sinh viên theo kiểu nấc thang để định cho sinh viên một mức điểm về môn ngành mà sinh viên học. Hầu hết mọi sinh hoạt học tập của sinh viên trong lớp hoặc các bài làm ở nhà đều ảnh hưởng tới mức điểm cuối cùng mà sinh viên nhận được. Bài thi, bài trắc nghiệm, luận văn hoặc bài làm, thành tích tại phòng thí nghiệm hoặc tại cơ xưởng, mức chuyên cần hoặc số lần tham dự lớp học... đều có thể được dùng để định ra điểm số cuối cùng của sinh viên trong một giáo trình hoặc lớp. Ðiều này có nghĩa là chuyện sinh viên phải đi học, làm bài và dự lớp cho thật đều đặn là hết sức quan trọng, quan trọng đến nỗi, nếu cần, sinh viên không bao giờ nên bỏ qua một buổi học nào hoặc một bài làm nào cả trong suốt khóa học. (V.P.)